Về mục đích và ý nghĩa của báo cáo
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trân trọng giới thiệu báo cáo được thực hiện theo đề nghị của Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan, với sự phối hợp và triển khai của VCCI chi nhánh ĐBSCL. Báo cáo nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan và có chiều sâu về các ngành trồng trọt và nuôi trồng thủy sản tại ĐBSCL.
Trong bối cảnh ĐBSCL giữ vai trò trung tâm của sản xuất nông nghiệp cả nước, đồng thời đang đối mặt với các thách thức ngày càng rõ nét như biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, Việt Nam và Hà Lan được xem là những đối tác có nhiều điểm tương đồng và khả năng bổ trợ lẫn nhau. Sự hợp tác giữa hai bên tiếp nối nền tảng quan hệ đã được xây dựng trong nhiều năm qua, đặc biệt trong các lĩnh vực phát triển nông nghiệp bền vững và quản lý tài nguyên nước.
Báo cáo không chỉ dừng lại ở việc tổng hợp thông tin, mà còn cung cấp phân tích toàn diện về bối cảnh kinh tế của vùng, thực trạng phát triển của các ngành phụ trợ nông nghiệp, cũng như những vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi theo hướng bền vững.
Thông qua việc kết hợp dữ liệu khảo sát và ý kiến từ các bên liên quan, báo cáo hướng đến việc làm rõ các xu hướng chính, nhận diện những điểm nghẽn trong chuỗi giá trị, đồng thời đề xuất một số định hướng và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của ĐBSCL. Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy đối thoại chính sách và tăng cường hợp tác giữa các bên trong thời gian tới.
Tóm tắt một số kết quả chính của báo cáo
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, với thế mạnh về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lương tái tạo. ĐBSCL hiện là trung tâm sản xuất nông nghiêp lớn nhất cả nước, đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây. Về xuất khẩu, ĐBSCL chiếm 95% lượng gạo, 60% sản lượng thủy hải sản và gần 49% rau quả xuất khẩu cả nước (Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu). Theo cơ cấu GRDP năm 2023 của vùng ĐBSCL thì nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn với 30%. Dù có nhiều lợi thế sẵn có nhưng tiểu ngành rau hoa quả và thủy sản vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức phát triển.
Về vĩ mô, tăng trưởng kinh tế thế giới và Việt Nam trong giai đoạn 2022- 2023 một phần rất lớn nhờ vào tăng trưởng của hoạt động thương mại. Hoạt động xuất khẩu của ĐBSCL trong năm 2023 và quý I/2024 tiếp tục khởi sắc, với chủ yếu là nông sản, vốn là thế mạnh của vùng. Tuy nhiên, đà tăng trưởng của cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng cho thấy sự chững lại khi phải đối mặt với nhiều thay đổi trong và ngoài nước. Đối với ngoài nước, những cuộc xung đột lớn, lạm phát, sự sụp đổ đột ngột của Ngân hàng Thung lũng Silicon (SVB) cùng với đó là dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3% trong năm 2023. Ngoài ra, ngành logistics cũng chịu nhiều tác động về giá dầu thế giới cũng như căng thẳng từ vùng biển đỏ. Đối với trong nước, Việt Nam đang phải đối mặt với một số thay đổi về chính trị trong ngắn hạn sẽ gây ít nhiều trở ngại trong việc thu hút FDI. Ngoài ra, sức khỏe doanh nghiệp vùng ĐBSCL cũng đang suy yếu và chưa phục hồi hoàn toàn so với giai đoạn trước đại dịch.
Sự bùng phát của đại dịch Covid ở năm 2020 và 2021 đã tác động lớn đến nền kinh tế, dẫn đến sự suy giảm tăng trưởng của cả nước nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng. Đến 2022, ĐBSCL mới có sự hồi phục mạnh mẽ với mức tăng trưởng 8,6%. Đây cũng là lần đầu tiên trong vòng một thập kỷ ĐBSCL có mức tăng trưởng cao hơn cả nước. Trong năm 2023, vùng ĐBSCL, vẫn duy trì vị thế cao hơn cả nước với tốc độ tăng trưởng GRDP đạt mức 6,6%. Ở quý I/2024, tốc độ tăng trưởng của của ĐBSCL ước tăng 5% so với cùng kỳ. Dù vậy, có thể nhận thấy sự phục hồi kinh tế của ĐBSCL đã cho thấy dấu hiệu hạ nhiệt từ 2022. Nhìn chung, tình hình thế giới không ổn định sẽ có tác động tiêu cực đến triển vọng phục hồi kinh tế Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng. Theo đó, tăng trưởng năm 2024 của vùng vẫn khó có thể quay về giai đoạn trước dịch (2018- 2019).
Về cơ cấu, trong các năm qua, cấu trúc kinh tế của vùng ĐBSCL gần như không có sự thay đổi. Do gánh vác trọng trách an ninh lương thực nên cơ cấu khu vực Nông, lâm, thuỷ sản của ĐBSCL không có sự thay đổi trong các năm qua. Điều này cũng tạo sự kìm hãm đến tiềm năng phát triển kinh tế của vùng, vốn dựa vào sự tăng trưởng của khu vực Công nghiệp và xây dựng cũng như Dịch vụ.
Về thu thu hút FDI, ĐBSCL chưa thực sự là điểm đến hấp dẫn. Ngành nông nghiệp vốn được xem là thế mạnh và trụ cột kinh tế quan trọng của vùng ĐBSCL, tuy nhiên thu hút đầu tư vào lĩnh vực này chưa đạt được kết quả như mong đợi, còn tồn tại nhiều hạn chế. Hoạt động xuất nhập khẩu ở ĐBSCL gặp nhiều khó khăn trong 2 năm dịch bệnh do các nhà nhập khẩu cắt giảm đơn hàng, chi phí vận chuyển tăng, thời gian giao hàng kéo dài do giãn cách và giá nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh.
Về hiện trạng, đối với tiểu ngành rau hoa quả, ĐBSCL có lợi thế nổi trội về canh tác rau hoa quả nhờ điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi. Dù vậy, sản phẩm chủ yếu của ĐBSCL vẫn là chế biến thô, chưa có nhiều hàm lượng giá trị gia tăng cao. Về mặt thị trường, phần lớn rau hoa quả đạt chuẩn sẽ được ưu tiên cho xuất khẩu để đạt giá trị kinh tế tốt nhất. Tuy nhiên, tiểu ngành rau hoa quả hiện phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc, trong khi về cơ bản chưa đáp ứng được các chứng nhận chất lượng của các nước tiên tiến. Về lao động, nguồn nhân lực có trình độ hạn chế, thái độ thiếu chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, tập quán canh tác lạc hậu, kỹ thuật canh tác thô sơ nhưng khả năng tiếp thu những quy trình mới đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế lại chưa cao. Về cơ sở hạ tầng, ĐBSCL là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông khiến ngành rau hoa quả bị ảnh hưởng lớn do đặc điểm phải đảm bảo được độ tươi ngon nên cần được vận chuyển nhanh chóng và an toàn. Về quy hoạch, các vùng nguyên liệu trồng rau hoa quả đều manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn cho việc thu mua cũng như tận dụng lợi thế nhờ quy mô. Ngoài ra, chính sách an ninh lương thực kìm hãm chuyển đổi đất cũng tạo rào cản mở rộng quy mô trồng trọt rau hoa quả. Về giống cây trồng, chất lượng, sự ổn định và đồng đều của giống cũng là một nhược điểm quan trọng cần khắc phục. Trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam chưa xem trọng và đầu tư nghiêm túc vào việc phát triển giống cây trồng. Điều này làm giảm tính cạnh tranh và tạo ra rủi ro cao liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của trái cây Việt Nam.
Tiểu ngành thủy sản hình thành và phát triển tại ĐBSCL gắn liền với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhưng sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp chế biến thủy sản lại gắn liền với nhu cầu và sự phát triển của thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, ĐBSCL còn có ưu thế nhờ lực lượng lao động (công nhân) trong ngành giàu kinh nghiệm. Về nuôi trồng, thách thức lớn nhất của ngành là đảm bảo nguồn cung dồi dào và ổn định các con giống sạch bệnh và có sức sống cao. Việc phụ thuộc vào nguồn cung ứng con giống bên ngoài vùng như hiện nay cũng là một hạn chế quan trọng. Hoạt động nghiên cứu tôm giống hiện nay đang chững lại và chưa có sự đột phá trong nhiều năm trở lại đây. Về thị trường, thị trường xuất khẩu của ngành thủy sản tại ĐBSCL có sự phân hóa đồng đều hơn và không tập trung vào một thị trường cụ thể. Về nguồn nguyên liệu, mô hình liên kết với nông dân hiện nay vẫn gặp những hạn chế nhất định bởi giá thu mua nguyên liệu phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường xuất khẩu nên các cam kết về giá cố định là không khả thi; trong khi các phương thức về cơ chế giá thả nổi chưa thể áp dụng vì thiếu cơ sở tham chiếu và tính cam kết của các thỏa thuận. Về hạ tầng, cơ sở hạ tầng giao thông và hệ thống logistics trong vùng chưa được đầu tư thích đáng và thiếu đồng bộ, khiến chi phí, giá thành và thời gian vận chuyển tăng lên đáng kể. Về sản phẩm, ngành có sự hạn chế về khả năng nghiên cứu phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng cũng như xây dựng thương hiệu riêng cho ĐBSCL. So với ngành nông nghiệp nói chung, tiểu ngành thủy sản có mức độ phát triển tốt hơn và tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng cao hơn nhưng phần lớn chỉ tập trung ở các doanh nghiệp đầu ngành.
Về khuyến nghị, để phát triển tiểu ngành rau hoa quả, thủy sản vùng ĐBSCL cần sự phối hợp, chung tay của các bên liên quan, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, do giới hạn về nguồn lực, Báo cáo tập trung vào các kiến nghị khả dĩ nhất để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp. Các khuyến nghị tập trung vào những vấn đề nút thắt của tiểu ngành như về nguồn vốn, thuế, nguồn nhân lực, quy hoạch vùng trồng và đất, thủy lợi, công nghệ sau thu hoạch, cơ chế ràng buộc hợp đồng, giống cây trồng, vật nuôi và logistics.
Thông tin liên hệ
VCCI ĐBSCL kỳ vọng báo cáo sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý, tổ chức, doanh nghiệp và các bên quan tâm đến phát triển nông nghiệp và kinh tế vùng ĐBSCL. Theo đó, Quý cơ quan, tổ chức và cá nhân quan tâm vui lòng liên hệ VCCI ĐBSCL để được cung cấp thông tin chi tiết và tiếp cận đầy đủ nội dung báo cáo.
Địa chỉ: Số 12, đường Hòa Bình, Phường An Cư, Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Điện thoại: 02923.824.918
Gặp Văn phòng hoặc nhấn máy lẻ 102 - Phòng Tư vấn và Thông tin Kinh tế