Home   /   Nhận Định - Bình Luận  /  SỰ KIỆN  /  HỘI THẢO  /   ĐBSCL và vấn đề sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong
ĐBSCL và vấn đề sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong

“Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng”. Đó là nhận định được GS. Nguyễn Ngọc Trân, Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL đưa ra tại Hội thảo Sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong vừa diễn ra tại Tp. Cần Thơ trong 2 ngày 22 – 23/4/2016.

Cụ thể, GS. Nguyễn Ngọc Trân cho rằng: “Thách thức toàn cầu đầu tiên mà ĐBSCL đang phải đối mặt chính là biến đổi khí hậu làm nước biển dâng”. Theo GS. Trân, ĐBSCL được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu. “Trái đất ấm lên, băng tan càng nhanh, ĐBSCL càng phải đối đầu với ngập, lún, chìm, bờ biển bị xâm thực và mặn ngày càng tiến sâu”.

Một thách thức toàn cầu khác được GS. Nguyễn Ngọc Trân nhắc đến là áp lực từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa buộc nền kinh tế đồng bằng phải tăng sức cạnh tranh cũng như tìm được chỗ đứng trong chuỗi giá trị chung của thế giới.

Về thách thức ở tầm khu vực, GS. Nguyễn Ngọc Trân cho biết: “Đó chính là việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, bao gồm việc chuyển nước sang lưu vực sông khác và nhất là xây dựng quá nhiều đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống trong khi nhu cầu về nước ngày càng tăng”.

Dẫn số liệu báo cáo của Ủy hội sông Mekong (MRC) năm 2009, GS. Trân cho biết, với 6 đập thủy điện của Trung Quốc cộng với 11 đập ở hạ lưu (9 trên đất Lào và 2 trên lãnh thổ Campuchia) và một số đập ở các chi lưu sẽ tích lại khoảng 65,5 tỷ m3 nước vào năm 2030. Trong khi đó, nhu cầu về nước ở khu vực hạ lưu sông Mekong năm 2030 được dự báo tăng 50% so với năm 2000.

Cũng trong báo cáo được dẫn của MRC, còn chỉ ra: “Tác động từ các đập của Trung Quốc đối với trầm tích sông Mekong là rất to lớn, trong hàng trăm năm. Một khi các đập ở nước này đi vào hoạt động, lượng trầm tích sông Mekong bị giữ lại Trung Quốc theo ước tính sẽ vào khoảng 1/3 đến 1/2 tổng lượng trầm tích bình quân chảy về châu thổ sông Mekong”.

“Sự thiếu hụt lượng trầm tích ở hạ du làm thay đổi diện mạo lòng sông và cả cửa biển. Sạt lở nghiêm trọng đê biển ở Gành Hào, đường phòng hộ ven biển ở Bạc Liêu mà tôi vừa khảo sát cuối tháng 2/2016 là minh chứng cụ thể cho tác động kép lên đồng bằng từ biến đổi khí hậu và từ khai thác nguồn nước ở thượng nguồn. ĐBSCL đang bị đe dọa trong chính sự tồn tại của mình”, GS. Trân giải thích thêm.

Ngoài ra, GS. Nguyễn Ngọc Trân cũng nhấn mạnh: “Việc mất đi diện tích rừng ngập mặn, việc khai thác cát vô tội vạ trên sông Tiền, sông Hậu làm thâm hụt đáng kể lượng trầm tích hiện có kết hợp với khai thác quá mức nước ngầm làm mặt đất sụt lún, kéo theo mực nước biển dâng ngày một nhanh là những thách thức tại địa bàn tác động xấu đến phát triển bền vững của vùng ĐBSCL”.

Để ứng phó với những thách thức đặt ra, nhiều chuyên gia đầu ngành cho rằng cần thiết phải xây dựng một cơ chế chung cho sử dụng, đánh giá về nguồn nước giữa 6 quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong, hướng đến phát triển bền vững cho tất cả các bên.

Đối với các cơ quan hữu quan trong nước, nhiều ý kiến đề xuất rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, các quy hoạch ngành – địa phương theo hướng tiết kiệm nước ngọt, chung sống với hạn – mặn và khai thác nước mặn như một loại tài nguyên. Cũng cần đưa ĐBSCL ra khỏi tình trạng “vùng trũng về giáo dục” để tăng cường nhận thức của người dân đối với khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Thực hiện: Lạc Long

TIN LIÊN QUAN

Đăng nhận xét mới

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *